• Home  / 
  • Tin Tức
  •  /  PEPSICO VS COCA-COLA: THẨM ĐỊNH CHI TIẾT

PEPSICO VS COCA-COLA: THẨM ĐỊNH CHI TIẾT

Tháng Mười Một 21, 2018
  • Sự thành công của hai gã khổng lồ này đã dẫn tới kết cục là một thị trường bão hòa và kìm hãm tăng trưởng.
  • Những thương vụ mua lại gần đây của cả hai công ty đều nhằm mục đích kích thích tăng trưởng
  • Chênh lệch trong định giá cổ phiếu của hai công ty là rất rõ rệt.

Bài viết dưới đây dựa trên quan điểm cá nhân của Chuck Walston, blogger chuyên viết về tài chính trên trang SeekingAlpha với 16 năm kinh nghiệm đầu tư cổ phiếu ngành bán lẻ.

Bài báo đầu tiên và duy nhất của tôi về PepsiCo và Coca-Cola tính tới thời điểm trước khi đăng bài viết này, được công bố vào đầu năm 2014. Sau khi tiến hành thẩm định chi tiết (due diligence) một cách toàn diện và vật lộn với lượng dữ liệu khổng lồ, tôi rút ra kết luận: Công ty có triển vọng xán lạn hơn là Coke, dù cách biệt chiến thắng là không lớn.

Tôi đã lầm!

Từ đó trở đi, tăng trưởng giá cổ phiếu Coca-Cola cao hơn 30% chút đỉnh. Mặt khác, các cổ đông của PepsiCo hưởng lợi khi giá cổ phiếu này tăng gần 45%. Đó là chưa xét tới lượng cổ tức mà cổ đông mỗi công ty nhận được, cũng như một thực tế là cổ phiếu Coca-Cola đang tiến gần tới đỉnh giá, trong khi PepsiCo vẫn đang trong giai đoạn hồi phục sau đợt sụt giá gần đây.

PepsiCo và Coke là hai gã khổng lồ trong thị trường của họ, là “con cưng” của cộng đồng đầu tư trên cơ sở tăng trưởng cổ tức (dividend growth investing – DGI) – và sự ưu ái này dựa trên cơ sở hợp lý. Khoản đầu tư ban đầu của một nhà đầu tư khó có thể phát sinh thua lỗ trong dài hạn nếu lượng cổ tức họ nhận được liên tục tăng.

Bài viết này tập trung đánh giá lại triển vọng của cả hai công ty, đồng thời tránh phân tích những khía cạnh quen thuộc từ góc độ của nhà đầu tư.

Chú gấu gầm gừ: Luồng gió ngược cản bước cả hai công ty 

Hoạt động kinh doanh của PepsiCo và Coca-Cola đều chịu ảnh hưởng của biến động ngoại tệ. Ví dụ: 42% hoạt động kinh doanh của PepsiCo diễn ra bên ngoài nước Mỹ.

Gần đây, lợi nhuận kinh doanh của Coke giảm 4% và doanh thu giảm 1% do ảnh hưởng từ biến động giá trên thị trường forex.

Tuy luồng gió ngược mang tên forex không phải là nỗi lo ngại quá lớn, sức mạnh hiện tại của đồng đô la Mỹ rất có thể sẽ kìm hãm đà tăng trưởng lợi nhuận trong ngắn hạn.

Chính sách thuế đối với đồ uống có đường

Vào năm 2003, California là bang đầu tiên ban hành lệnh cấm bán đồ uống có ga tại các trường học công. Kể từ đó, cả hai công ty này luôn vấp phải những thách thức từ phong trào chính trị nhằm hạn chế người tiêu dùng tiếp cận với dòng sản phẩm “đẻ trứng vàng” của họ.

Ngày nay, thức uống có ga bị đánh thuế tại các thành phố Oakland, San Francisco, Albany, Boulder, Philadelphia và xứ  Navajo ở Mỹ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Sri Lanka, Bồ Đào Nha và các quốc gia khác.

Sự kiện doanh số bán ra của soda tại Mexico giảm 10% sau khi nước này đánh thuế thức uống có chất tạo ngọt vào năm 2013 đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho giới đầu tư.

Cả hai công ty đều áp dụng các biện pháp nhằm đối phó với thách thức từ động thái đánh thuế đồ uống có đường và xu hướng tiêu thụ các sản phẩm có lợi cho sức khỏe trên toàn xã hội, song hiệu quả thu được không giống nhau. Gần một nửa doanh thu của PepsiCo tới từ phân khúc thực phẩm nên lực cản của những cơn gió ngược này lên Pepsi nhỏ hơn so với đối thủ.

Cũng cần nói thêm rằng, theo báo cáo của Beverage Digest, lượng tiêu thụ đồ uống có ga theo đầu người của nước Mỹ giảm 2% mỗi năm trong vòng một thập kỷ qua.

Chi phí vận chuyển khiến lợi nhuận sụt giảm 

Trong cuộc họp công bố kết quả kinh doanh Q1 diễn ra vào tháng 4/2018, Coca-Cola tuyên bố chi phí vận chuyển đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. PepsiCo cũng khuyến cáo nhà đầu tư nên chuẩn bị sẵn tâm lý để đối mặt với nguy cơ lợi nhuận sụt giảm do chi phí vận chuyển tăng.

Theo dịch vụ logistics trực tuyến DAT Solutions LLC, giá giao ngay của dịch vụ chuyên chở bằng xe mooc (dry van) đã tăng 32% trong tháng 3 năm nay so với cùng kỳ năm ngoái. Giá giao ngay là chỉ báo chủ đạo về giá hợp đồng của các công ty vận tải lớn. Như một kết quả tất yếu, giá hợp đồng được dự báo sẽ tăng 9,2% trong năm 2018, theo phân tích của KeyBanc Capital Markets Inc.

Cơn gió ngược này sẽ không tan trong một sớm một chiều. Hiệp hội ngành Vận tải Hoa Kỳ ước tính cung tài xế xe tải đang thiếu hụt 900.000 người so với cầu. Dự báo con số này sẽ đạt 174.000 người tính tới năm 2026.

Thuế quan trên kim loại nhôm thổi phồng chi phí đầu vào

CEO James Quincey của Coca-Cola phát biểu: “Một nhân tố đẩy giá nguyên liệu đầu vào lên cao đã xuất hiện và ảnh hưởng tới lĩnh vực kinh doanh của chúng tôi và nhiều lĩnh vực khác […] Thuế quan đánh vào kim loại, đó là một trong nhiều yếu tố khiến chúng tôi quyết định tăng giá sản phẩm vào dịp giữa năm”.

Trong tháng 3/2018, BMO Capital Markets ước tính tỉ trọng thuế quan đánh vào nhôm trên chi phí sản phẩm bán ra của PepsiCo và Coca-Cola tăng từ 5% lên 10%, của Monster Beverage tăng từ 15% lên 20%.

Nhà đầu tư nên biết rằng ở một mức độ nhất định, Coke được bảo hộ trước ảnh hưởng từ động thái này do không trực tiếp vận hành khâu đóng chai; song công ty này cũng nắm giữ 18% cổ phần của Monster Beverage.

Sức sống của ngành thép được chính quyền đương thời xem như một vấn đề an ninh quốc gia, do đó chính sách thuế quan này có khả năng sẽ không suy chuyển ngay cả khi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung hạ nhiệt. Vì lẽ đó, nhà đầu tư vào hai công ty này nên biết rằng trong phân khúc đồ uống, lợi nhuận giảm hoặc giá sản phẩm tăng là hệ quả tất yếu.

Thách thức đối với mỗi công ty

Khoảng một năm trước, tôi chấp bút cho một bài báo về Hormel. Trong đó, tôi liệt kê các thách thức mà công ty này đang phải đối mặt, và một trong số đó là sự vươn lên của các nhãn hiệu tư nhân.

Xu thế này chủ yếu là thách thức đối với phân khúc thực phẩm của PepsiCo. Bởi các nhãn hiệu tư nhân chưa đủ năng lực để xâm nhập vào thị trường những loại đồ uống được người tiêu dùng ưa chuộng.

Mục dưới đây là trích dẫn nguyên văn từ chính bài báo đó.

Hàng tạp phẩm nhãn riêng đang thổi bay hàng tiêu dùng chủ đạo khỏi giá trưng bày.

 

Mối đe dọa lớn dần đối với các mặt hàng tiêu dùng chủ lực đến từ các nhãn hiệu tư nhân và nhãn hiệu riêng của các hãng bán lẻ.

Tôi trải qua thời niên thiếu trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đang diễn ra ác liệt. Khi ấy, sản phẩm của các thương hiệu cá nhân thường là các món đồ hộp dán nhãn đen trắng sơ sài, và chất lượng sản phẩm khiến người ta không khỏi ngán ngẩm. Điều này không còn đúng với thực tại.

Các nhãn hàng tư nhân đã tiến bộ hơn đáng kể.

Hãy lưu ý các điểm sau:

  • Giá thành sản phẩm của các thương hiệu tư nhân thấp hơn 20-30% so với các thương hiệu quốc gia (national brand). Hiệp hội Nhà sản xuất Nhãn hàng Tư nhân (PLMA) ước tính doanh thu hàng tạp hóa của các hàng nhãn riêng (store brand) tại thị trường Mỹ đạt 150 tỉ USD trong năm ngoái. Theo PLMA, “phần lớn người tiêu dùng không nhận thấy sự khác biệt giữa hàng nhãn riêng và hàng của các thương hiệu quốc gia”.
  • Hàng nhãn riêng giúp lợi nhuận của các nhà bán lẻ tăng trung bình 1000 điểm cơ bản.
  • Hệ thống bán lẻ Kroger hiện cung cấp 30.000 sản phẩm mang nhãn hiệu tư nhân, tăng 1000 sản phẩm so với năm ngoái. Trong một báo cáo gần đây, gần 28% sản phẩm bán ra trong hệ thống cửa hàng của Kroger là hàng nhãn riêng. Bên cạnh đó, Kroger dự báo trong vài năm tới, doanh số của thương hiệu tư nhân Simple Truth sẽ tăng gần gấp đôi con số 1,2 tỉ USD mỗi năm trong hiện tại.
  • Xấp xỉ 15% hàng hóa của hệ thống bán lẻ Wegman là sản phẩm của các thương hiệu tư nhân, và hàng nhãn riêng chiếm 40% doanh thu của công ty này; trong khi đó, nhãn hiệu Kirkland Signature của Costco đóng góp 25% vào doanh thu hàng tạp hóa của chuỗi cửa hàng này.
  • Theo chuyên gia phân tích Michael Wesser của UBS, các nhãn hiệu tư nhân chiếm 14% doanh thu thực phẩm đóng hộp.
  • Theo một nghiên cứu của Viện Marketing Thực phẩm, 82% người tiêu dùng coi hàng hóa của các nhãn hiệu tư nhân có vai trò “rất’ hoặc “hơi” quan trọng tới quyết định mua hàng tại một cửa hàng tạp hóa nhất định của họ.
  • Hơn 50% người mua hàng cho biết họ hiện mua sắm nhiều hàng nhãn riêng hơn so với năm ngoái, 80% người mua hàng tin rằng hàng hóa của các thương hiệu tư nhân cũng tốt tương đương hoặc hơn các thương hiệu quốc gia.
  • Theo một nghiên cứu năm 2014 của tổ chức Consumer Reports, 93% phụ nữ Mỹ mua hàng nhãn riêng vì muốn tiết kiệm.

Trong bối cảnh một cuộc chiến toàn diện đang sôi sục trên thị trường bán lẻ hàng tạp hóa, một nhà đầu tư khách quan nên kỳ vọng rằng các chuỗi bán lẻ hàng tạp hóa tư nhân sẽ tăng cường quảng bá các sản phẩm nhãn riêng của họ. Và song song với cuộc xâm lăng các kệ hàng của các nhãn hiệu tư nhân là sự sụt giảm trong lợi nhuận và doanh thu của các nhãn hiệu tiêu dùng chủ lực.

Quan điểm của một người có cái nhìn tích cực về thị trường

Cả hai công ty đều đạt tốc độ tăng trưởng tự thân đáng kể – đây là một thành tựu không nhỏ đối với những doanh nghiệp có quy mô tầm cỡ như vậy. Theo báo cáo của Coca-Cola, tốc độ tăng trưởng doanh thu tự thân (phi GAAP) trong ba quý đầu năm đạt 6%.

Dù thị trường vẫn lo ngại về xu hướng từ bỏ thức uống có đường của người tiêu dùng, biểu đồ dưới đây lại chứng minh rằng tổng lượng tiêu thụ đã tăng lên đáng kể. Trong giai đoạn 2012-2017, doanh thu từ thức uống có ga đã tăng 20,5% trên phạm vi toàn cầu.

Thương vụ sát nhập của PepsiCo

Nhiều ý kiến chỉ trích rằng thương vụ mua lại SodaStream của PepsiCo quá đắt đỏ. Giá trị thương vụ này đạt 3,2 tỉ USD với giá cổ phiếu là 144 USD/cổ phiếu, được thanh toán bằng tiền mặt tại quỹ của PepsiCo.

Dẫu vậy, trước khi được sát nhập vào PepsiCo, kết quả kinh doanh của SodaStream vốn tăng trưởng với tốc độ cao.

SodaStream cũng đem lại cho PepsiCo cơ sở khách hàng khá lớn với trọng tâm ở thị trường châu Âu. Tôi đoán rằng thông qua vụ mua lại này, PepsiCo muốn mở rộng thị phần của sản phẩm SodaStream tại thị trường Bắc Mỹ. Tôi tin rằng nước cờ này sẽ gặt hái kết quả khả quan, song cũng tự hỏi liệu một cuộc xâm lấn thị trường Bắc Mỹ có triệt tiêu các dòng sản phẩm hiện tại của PepsiCo hay chăng.

Image result for sodastream

Chiến lược xâm nhập thị trường cà phê của Coca-Cola

Thương vụ mua lại Costa trị giá 5,1 tỉ USD của Coke sẽ giúp công ty này in dấu chân tại các thị trường châu Âu, châu Á Thái Bình Dương, châu Phi và Trung Đông. Trước đó, hoạt động kinh doanh của Costa trải dài trên hơn 30 thị trường khác nhau.

Tính tới thời điểm hiện tại, Vương quốc Anh vẫn là thị trường lớn nhất của Costa. Bên cạnh đó, tại châu Âu, lữ khách khó có thể ngó lơ các cửa hàng Costa – vốn được bố trí ở các vị trí chiến lược trong những thành phố lớn, đặc biệt là tại các trung tâm mua sắm và ga tàu. Tôi tin rằng nhà đầu tư Mỹ không ý thức được mức độ phổ biến của giao thông công cộng tại châu Âu và có thể sẽ xem nhẹ tầm quan trọng của chiến lược này.

Cần lưu ý rằng doanh thu của riêng 10 thị trường cà phê lớn nhất thế giới đạt 50 tỉ USD. Costa định vị Trung QUốc là thị trường quốc tế chủ lực của họ, với tỉ trọng 12% trong tổng doanh thu. Số lượng cửa hàng Costa tại quốc gia này là 449 và theo kế hoạch sẽ tăng lên 1200 vào năm 2022.

Trong khi tiêu thụ cà phê tại Trung Quốc đã tăng gấp ba lần trong vòng 4 năm qua, một người trung bình tại Trung Hoa đại lục chỉ uống 3 cốc cà phê mỗi năm. Ngược lại, theo số liệu của Euromonitor International, một người Anh uống 250 cốc cà phê/năm và một người Mỹ uống 363 cốc cà phê/năm.

Hiện tại, Thượng Hải là nhà của 6500 cửa hiệu cà phê, và ở Trung Quốc nói chung, trung bình cứ 15 tiếng đồng hồ lại có một cửa hàng Starbuck mới ra đời.

Cơn khát cà phê tại Trung Quốc chủ yếu đến từ 450 triệu dân thuộc thế hệ millenial và tầng lớp trung lưu ngày một đông đảo, dự kiến sẽ tăng gấp đôi lên 600 triệu người vào năm 2022.

Nhiều người tin rằng uống cà phê chỉ là một xu thế thoáng qua tại Trung Quốc. Tôi không cho là vậy. Hãy lưu ý thực tế dưới đây:

Thê hệ millennial đóng góp 40% sản lượng tiêu thụ cà phê trong năm nay trên nền tảng thương mại điện tử Alibaba. Doanh thu từ các sản phẩm cà phê trên Alibaba và các nền tảng thương mại điện tử liên kết khác tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đây là một cơ hội vàng cho Coca-Cola. Theo logic thông thường, bước đi tiếp theo của gã khổng lồ này nên là đẩy mạnh mở rộng hoạt động kinh doanh tại Trung Hoa đại lục với quy mô và tốc độ lớn hơn kế hoạch ban đầu của Costa trước khi vụ mua lại diễn ra,

So sánh trực diện 

Xếp hạng nợ của PepsiCo theo Standard & Poor là A+.

PepsiCo: Lượng tiền mặt của công ty giảm hơn 50% từ 19,5 tỉ USD vào cuối năm 2017 xuống còn 12 tỉ USD vào cuối Q3 2018.

Tổng nợ giảm từ 68,8 tỉ USD xuống còn 63,2 tỉ USD trong khi tỉ lệ nợ dài hạn trên vốn giảm từ 74,6% xuống còn 75,4%.

Coca-Cola: Tình hình tài chính của công ty này đang hết sức vững chắc. Theo Moody, xếp hạng của Coke là Aa3 với triển vọng tiêu cực. Standard & Poor đánh giá Coca-Cola có triển vọng ổn định với xếp hạng A+.

Lượng tiền mặt của Coke giảm gần 50% trong giai đoạn Q3 2017 – Q3 2018. Dẫu vậy, tổng lượng tiền mặt, các khoản tương đương tiền mặt và đầu tư ngắn hạn của công ty này vẫn đạt 18,8 tỉ USD.

Tỉ lệ nợ trên vốn đạt 39%, khá khẩm hơn so với con số 45,5% vào cuối Q3 2017.

Đánh giá: Lợi thế thuộc về Coca-Cola.

Lợi thế cạnh tranh và năng lực ban lãnh đạo 

Cả hai công ty đều có lợi thế cạnh tranh lâu dài và ban lãnh đạo với năng lực ổn định.

Chẳng hạn, PepsiCo sở hữu 22 nhãn hiệu đồ ăn vặt và thức uống. Điều đáng nói là mỗi thương hiệu đều đem về 1 tỉ USD lợi nhuận hàng năm.

Chiếc ghế CEO ở PepsiCo và Coke  đều mới đổi chủ, nhưng khả năng cao là đội ngũ điều hành của cả hai công ty đều có năng lực vững vàng.

Đánh giá: Hòa

Thước đo cổ tức

Tại thời điểm bài viết này được soạn thảo, lợi suất cổ tức PepsiCo đạt 3,16%. Tỉ lệ chi trả cổ tức đạt khoảng 60% va tỉ lệ lợi nhuận thuần trên cổ tức ddtj 167%.

Tốc độ tăng trưởng cổ tức trong 3 và 10 năm qua đạt lần lượt 7,7% và 8,3%.

Cùng lúc đó, lợi suất cổ tức của Coca-Cola là 3,14%. Tỉ lệ chi trả cổ tức đạt khoảng 74%.

Tốc độ tăng trưởng cổ tức trong 3 và 10 năm qua đạt lần lượt 6,9% và 7,9%.

Tôi cho rằng các chỉ số này đều nằm trong vùng an toàn.

Đánh giá: Lợi thế cận biên thuộc về PepsiCo.

Định giá

 Mức giá mục tiêu của cổ phiếu PepsiCo theo Morningstar và Argus lần lượt là 122 USD và 128 USD. CFRA không đưa ra nhận định nào.

Sau khi nghiên cứu các chỉ số của PepsiCo, tôi cho rằng giá giao dịch của cổ phiếu này đang ở mức rẻ nếu so sánh đồng đẳng, đặc biệt khi xét tới các chỉ số tăng trưởng PS (giá trên doanh số), PE (giá trên lợi nhuận);  mức giá này lại khá rẻ so với giá trị thực nếu xét theo PCF (giá trên dòng tiền).

Giá giao dịch của cổ phiếu này cao hơn giá trị thực nếu xét tỉ số PB (giá cổ phiếu trên giá ghi sổ sách).

Giá mục tiêu của cổ phiếu Coca-Cola theo ba dịch vụ phân tích trên lần lượt là 49 USD, 47 USD và 37,69 USD.

Giá giao dịch của cổ phiếu này đang ở đắt hơn giá trị thực nếu so sánh đồng đẳng nếu xét tới các tỉ số PB, PF, PCF.

PE hiện tại và tương lai của hai công ty có sự chênh lệch rất rõ ràng.

PE của PepsiCo đạt gần 20 lần trong khi PE của Coke là gần 32 lần. Chênh lệch trong định giá của hai công ty được thu hẹp phần nào khi xét tới PE tương lai: 23,84 là kết quả của Coca-Cola và 20,75 là kết quả của PepsiCo.

PEG hiện tại của PepsiCo đạt 2,92 lần. Con số tương tự của Coca-Cola là 4,72.

Các chỉ số định giá cho thấy sự chênh lệch rõ nét giữa hai công ty và là nhân tố quyết định đánh giá của tôi: Cổ phiếu PepsiCo là danh mục đầu tư hấp dẫn hơn.

Đánh giá: Lợi thế thuộc về PepsiCo

Kết luận:

Như đã trình bày trong bài viết, thách thức đối với cả hai công ty này đều thuộc diện kiểm soát được và triển vọng tăng trưởng đều khả quan.

Tôi tin rằng xu hướng dịch chuyển sang mặt hàng tạp hóa của các nhãn hiệu tư nhân là mối lo ngại lớn nhất trong dài hạn của PepsiCo và giới đầu tư cần theo dõi sát sao nhân tố này. Phân khúc đồ uống vẫn tương đối an toàn trước làn sóng xâm lấn của các nhãn hiệu tự nhân, do đó không phải là nỗi lo quá lớn đối với các cổ đông của Coke.

Nhà đầu tư nên biết rằng tăng trưởng đột biến khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, cổ phiếu của cả hai công ty đều là những khoản đầu tư an toàn, đặc biệt đối với các nhà đầu tư DGI.

Hai thương vụ mua lại SodaStream và Costa sẽ tạo ra những thay đổi trong cán cân quyền lực giữa hai ông lớn này. Đồng thời, tăng trưởng tự thân vẫn sẽ tiếp tục đà đi lên nhờ những nỗ lực đầu tư ở nước ngoài.

Mặc dù tôi thừa nhận rằng cổ phiếu của những công ty tầm cỡ như PepsiCo và Coke hầu như luôn giao dịch tại mức giá cao hơn giá trị thực, tôi cho rằng cổ phiếu Coca-Cola cao hơn rất nhiều so với mức giá mà tôi sẵn sàng chi trả. Do đó tôi cho rằng đây là cổ phiếu nên nắm giữ.

Giá cổ phiếu của PepsiCo tương đối hợp lý; song tôi kỳ vọng vào một khoảng an toàn cận biên lớn hơn so với hiện tại.

About the author

chungkhoanquocte

Click here to add a comment

Leave a comment:


pepsico-vs-coca-cola-thm-nh-chi-tit-chng-khon-quc-t